Ngày 2/8/2024, Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm của Mỹ (U.S. Food and Drug Administration, FDA) đã phê duyệt nhanh cho afamitresgene autoleucel (afami-cel), một liệu pháp gen thụ thể tế bào T (TCR), để điều trị một số bệnh nhân trưởng thành bị sarcoma hoạt dịch không thể cắt bỏ hoặc di căn.
Afami-cel là liệu pháp tế bào được thiết kế đầu tiên được FDA chấp thuận cho khối u rắn. Nó được chỉ định cho những bệnh nhân trưởng thành đã được hóa trị trước đó, có HLA-A*02:01P, -A*02:02P, -A*02:03P hoặc -A*02:06P dương tính và có khối u biểu hiện kháng nguyên MAGE-A4 theo xác định của các thiết bị chẩn đoán đi kèm đã được FDA chấp thuận hoặc chấp thuận.
“Liệu pháp này cung cấp một lựa chọn mới quan trọng cho những người mắc loại ung thư hiếm gặp này”, Tiến sĩ Sandra D’Angelo, một chuyên gia về sarcoma, người đứng đầu khoa lâm sàng tại Trung tâm Ung thư Memorial Sloan Kettering (MSK), cho biết. “Đây cũng là một bước tiến quan trọng trong quá trình phát triển các liệu pháp tế bào T cho khối u rắn, vốn là một thách thức lớn”.
Được tiếp thị với tên gọi Tecelra (Adaptimmune, LLC), afami-cel là một sản phẩm tế bào T tự thân được thiết kế với vectơ lentivirus tự bất hoạt để biểu hiện thụ thể tế bào T đặc hiệu MAGE-A4 có ái lực cao. MAGE-A4 được biểu hiện trong các khối u rắn, bao gồm các khối u mô mềm như khối u hoạt dịch. Afami-cel không phải là liệu pháp CAR T, mà là liệu pháp thụ thể tế bào T (TCR). Liên quan đến CAR T, TCR có thể nhắm mục tiêu vào các protein bên trong chính tế bào, trong khi liệu pháp CAR T chỉ nhắm mục tiêu vào các protein trên bề mặt tế bào.
Việc FDA chấp thuận afami-cel dựa trên kết quả từ thử nghiệm SPEARHEAD-1 quan trọng của Adaptimmune để điều trị sarcoma hoạt dịch di căn và sarcoma mỡ tế bào tròn dạng nhầy (MRCLS), kết quả của thử nghiệm này đã được công bố vào tháng 4 trên tạp chí The Lancet. MRCLS là một căn bệnh riêng biệt có chung các đặc điểm lâm sàng và sinh học với sarcoma hoạt dịch bao gồm biểu hiện của kháng nguyên ung thư MAGE-A4.
Tổng cộng, 52 bệnh nhân được điều trị bằng afami-cel (44 bệnh nhân bị sarcoma hoạt dịch, tám bệnh nhân bị sarcoma tế bào tròn dạng nhầy). Tất cả bệnh nhân đều không đáp ứng với các liệu pháp trước đó. Dữ liệu từ thử nghiệm cho thấy 37% bệnh nhân có khối u co lại sau khi dùng một liều duy nhất. Tỷ lệ hiệu quả là 39% đối với bệnh nhân sarcoma hoạt dịch và 25% đối với bệnh nhân MRCLS.
Bệnh nhân sarcoma hoạt dịch đáp ứng với liệu pháp của họ trong trung bình 11,6 tháng; bệnh nhân MRCLS đáp ứng với liệu pháp trung bình 4,2 tháng. D’Angelo, tác giả chính của bài báo trên tạp chí The Lancet, lưu ý rằng những phản ứng này rất quan trọng đối với nhóm bệnh nhân này vì nhiều người đã sử dụng hết mọi phương pháp điều trị khác.
Trước khi được điều trị, tất cả bệnh nhân tham gia thử nghiệm đều được hóa trị. Độc tính về huyết học là tác dụng phụ phổ biến nhất, mà các nhà nghiên cứu dự đoán là hậu quả của tình trạng suy giảm bạch cầu lympho thường xảy ra ở bệnh nhân hóa trị. Hội chứng giải phóng cytokine (CRS), một tác dụng phụ có khả năng nghiêm trọng, được 71% người tham gia thử nghiệm gặp phải, mặc dù các triệu chứng của CRS không nghiêm trọng đối với hầu hết bệnh nhân.
Tài liệu tham khảo



